Situs toto togel 4D bandar togel bolak balik bandar togel hadiah 4d 15 juta bandar togel hadiah 4d 10 juta terpercaya Bo togel
ĐIỀU TRỊ CẬN THỊ KHÔNG PHẪU THUẬT VỚI KÍNH ORTHO K - Bệnh viện Mắt Hà Nội

SỞ Y TẾ HÀ NỘI

BỆNH VIỆN MẮT HÀ NỘI

ĐIỀU TRỊ CẬN THỊ KHÔNG PHẪU THUẬT VỚI KÍNH ORTHO K

Nếu con bạn bị cận thị, có lẽ bạn đang tự hỏi liệu có cách điều trị cận thị hay không?
Hoặc ít nhất là có thể làm điều gì đó để làm chậm sự tiến triển của bệnh để con bạn không bị tăng số kính nhiều hơn từ năm này qua năm khác.

Trong nhiều năm, các nhà nghiên cứu và thực hành chăm sóc mắt đã tự đặt những câu hỏi tương tự. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy thực sự có thể kiểm soát cận thị bằng cách làm chậm sự tiến triển của bệnh từ độ tuổi trẻ em và lứa tuổi thanh thiếu niên với kính Ortho K.


1. Ortho K – thấu kính định hình giác mạc
Orthokeratology là việc sử dụng kính áp tròng thấm khí được thiết kế đặc biệt được đeo khi ngủ vào ban đêm để điều chỉnh tạm thời tật cận thị và các vấn đề về thị lực khác, do đó bệnh nhân vẫn nhìn thấy rõ mà không cần đeo kính và kính áp tròng khi thức dậy.

Nhưng một số bác sĩ nhãn khoa sử dụng thấu kính “ortho-k” cũng để kiểm soát sự tiến triển của cận thị ở trẻ em. Bằng chứng cho thấy trẻ em cận thị trải qua vài năm chỉnh hình có thể ít bị cận thị hơn khi trưởng thành, so với trẻ em đeo kính mắt hoặc kính áp tròng thường xuyên trong những năm cao điểm về sự tiến triển của cận thị.

Nhiều chuyên gia chăm sóc mắt gọi những thấu kính này là thấu kính “thấu kính định hình lại giác mạc” hoặc thấu kính “trị liệu khúc xạ giác mạc (CRT)” hơn là thấu kính ortho-k, mặc dù kiểu dáng thấu kính có thể giống nhau.

2. Một số nghiên cứu đánh giá khả năng kiểm soát cận thị của Ortho K

Vào năm 2011, các nhà nghiên cứu từ Nhật Bản đã trình bày một nghiên cứu đánh giá tác động của thấu kính ortho-k đối với sự giãn dài trục nhãn cầu ở trẻ em, đây là một yếu tố liên quan đến sự tiến triển của cận thị.

Trong một nghiên cứu kéo dài 2 năm đối với 92 trẻ bị cận thị,trong đó: 42 trẻ đeo kính ortho-k qua đêm và 50 trẻ đeo kính thông thường vào ban ngày. Độ tuổi trung bình của trẻ em tham gia vào nghiên cứu là khoảng 12 tuổi vào thời điểm bắt đầu nghiên cứu, và trẻ em ở cả hai nhóm về cơ bản có cùng mức độ cận thị từ trước (-2,57 D) và cùng trục (từ trước ra sau) chiều dài nhãn cầu (24,7 mm).

Vào cuối nghiên cứu, trẻ em trong nhóm đeo kính cận có sự gia tăng đáng kể chiều dài trục nhãn cầu trung bình của mắt so với trẻ em đeo kính áp tròng ortho-k. Các tác giả nghiên cứu kết luận rằng: “ Chỉnh hình qua đêm ngăn chặn sự giãn dài trục nhãn cầu,từ đó cho thấy chỉnh hình ortho-k có thể làm chậm sự tiến triển của cận thị, so với việc đeo kính cận thông thường”.

Vào năm 2012, các nhà nghiên cứu tương tự đã công bố kết quả của một nghiên cứu tương tự kéo dài 5 năm trên 43 trẻ em bị cận thị cho thấy đeo kính áp tròng ortho-k qua đêm đã ngăn chặn sự kéo dài trục nhãn cầu so với việc đeo kính thông thường để điều chỉnh cận thị.

Cũng trong năm 2012, các nhà nghiên cứu ở Tây Ban Nha đã công bố dữ liệu nghiên cứu cho thấy trẻ em từ 6 đến 12 tuổi bị cận thị -0,75 đến -4,00 D đeo kính áp tròng ortho-k trong hai năm có ít tiến triển cận thị hơn và giảm độ dài trục của mắt so với những trẻ tương tự đã đeo kính cận để sửa tật cận thị.


Vào tháng 10 năm 2012, các nhà nghiên cứu ở Hồng Kông đã công bố một nghiên cứu khác về tác dụng của kính áp tròng ortho-k trong việc kiểm soát sự tiến triển của cận thị ở trẻ em. Tổng cộng 78 trẻ cận thị từ 6 đến 10 tuổi khi bắt đầu điều tra đã hoàn thành nghiên cứu kéo dài hai năm.

Những đứa trẻ đeo kính ortho-k có chiều dài trục của mắt tăng chậm hơn 43% so với những đứa trẻ đeo kính cận. Ngoài ra, những trẻ nhỏ được lắp kính GP(thấu kính khác có thể thấm khí) định hình lại giác mạc đã giảm sự tiến triển cận thị nhiều hơn so với những trẻ lớn hơn.

Hơn nữa, như chuyên gia kiểm soát cận thị Jeffrey J. Walline, OD, Tiến sĩ, từ Trường Đại học Nhãn khoa Bang Ohio đã chỉ ra trong phân tích của ông về nghiên cứu được công bố trên cùng một số của Điều tra Nhãn khoa & Khoa học Thị giác , lợi ích của việc làm chậm sự tiến triển của cận thị từ đeo kính định hình lại giác mạc kéo dài sau năm điều trị cận thị đầu tiên .

Vào tháng 3 năm 2014, các nhà nghiên cứu ở Đài Loan đã công bố kết quả của một nghiên cứu so sánh việc sử dụng kính áp tròng ortho-k và thuốc nhỏ mắt atropin để kiểm soát cận thị ở trẻ em từ 7 đến 17. Những người tham gia có độ cận thị từ -1,50 đến -7,50D (với loạn thị lên đến -2,75 D) vào đầu thời gian nghiên cứu ba năm.

Hai phương pháp điều trị kiểm soát cận thị cho kết quả tương đương: trẻ em đeo kính ortho-k có tiến triển cận thị -0,28 D mỗi năm và những người đeo kính và nhỏ thuốc nhỏ mắt atropin 0,125% hàng đêm có mức độ cận thị trung bình là -0,34 D mỗi năm .

Mặc dù nghiên cứu này không bao gồm nhóm đối chứng không được điều trị để kiểm soát cận thị, nhưng các tác giả nghiên cứu đã đề cập rằng trong các nghiên cứu tương tự trong 2 năm, sự tiến triển của cận thị ở trẻ em đeo kính ortho-k để kiểm soát cận thị chỉ bằng 1/2 so với những trẻ không được kiểm soát cận thị điều trị.

Phương Đỗ – CTXH

Tài liệu tham khảo : BMC Ophthalmology -03/2014;JAMA Ophthalmology -03/2014; Investigative Ophthalmology & Visual Science -10/2012; American Journal of Ophthalmology 07/2003.

Bài viết liên quan